Showing posts with label Canh tác bền vững. Show all posts
Showing posts with label Canh tác bền vững. Show all posts

Thursday, January 9, 2014

NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ HAY HỮU CƠ HÓA NÔNG NGHIỆP

TÓM TẮT 

Trên  quan  điểm  so  sánh  những  ưu  và  nhược  điểm  của  nền  nông  nghiệp  hữu  cơ  và  nông nghiệp hóa học để  có cách lựa chọn nên ưu tiên loại  hình nào cho phù hợp với thực trạng một nền kinh tế  nông nghiệp của đất nước. Tác giả  cho rằng nông nghiệp hữu cơ  thực chất là cốt lõi của nền nông nghiệp truyền thống nhưng có hỗ  trợ  của các yếu tố  kỹ  thuật tiên tiến của nhiều ngành khoa học nên có tiến bộ  hơn nền nông nghiệp truyền thống. Kể  từ  khi xuất hiện mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ  vào năm 1940, cho đến nay về  diện tích mới chỉ  đạt được khoảng 1-2% tổng số  diện tích canh tác của toàn thế  giới và cũng mới cung cấp cho khách hàng khoảng 1% sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. 

Ở  Việt Nam, các mô hình nông nghiệp hữu cơ  mới được xuất hiện gần đây với diện tích và sản phẩm thu được còn quá khiêm tốn. Trong lúc đó phần lớn khách hàng thế giới và trong nước đang cần sản phẩm nông nghiệp đạt tiêu chuẩn GAP, kể  cả VietGAP hay GlobalGAP. Mặt khác do thực tiễn ở Việt Nam có trên 70% dân số là nông dân, nhưng bình quân ruộng đất trên từng hộ rất ít  ỏi, họ  vừa cần cả  năng suất cao và giá cảhợp lý, vì vậy, tác giả  đề  xuất quan điểm vừa ứng dụng  nền  nông nghiệp  hữu cơ,  vừa phải ưu tiên  nền  nông  nghiệp hóa học. Nhưng chỉ   nên tập trung áp dụng sản xuất nông nghiệp hữu cơ  trên m ột số  chủng loại cây trồng nhạy cảm, dễ  bị  ô nhiễm các loại nông dược. Ưu tiên phần lớn diện tích giành cho áp dụng sản xuất nông nghiệp hóa học  theo tiêu chuẩn GAP, trong đó khuyến khích sử  dụng các loại phân bón hữu cơ  làm cơ sở để  mở rộng phạm vi nền nông nghiệp hữu cơ cho các thập kỷ tới. 

PHÉP SO SÁNH 

1. Lịch sử hình thành nền nông nghiệp hữu cơ

Theo định nghĩa  hiện  nay thì  nông  nghiệp  hữu cơ  thực chất  là gói kỹ  thuật của  nền  nông nghiệp truyền thống được hình thành từ  khi con người biết kỹ  thuật trồng trọt và chăn nuôi gia súc để sinh sống và tồn tại cho đến trước khi nền công nghiệp phân bón hóa học ra đời. Tính trên phạm vi thế  giới thì lấy  mốc khoảng năm 1913 (Ecomart.vn/home) khi thế  giới bắt đầu tổng hợp được đạm NH3, dần dần nông nghiệp hữu cơ nhường chỗ  cho nền nông nghiệp hóa học hóa vào giữa thế  kỷ  XX. Ở  Việt Nam có thể  kể  đến tháng 6 năm 1962, khi mẻ  phân super lân Lâm Thao đầu tiên  ra đời (ở  miền Bắc)  và cũng dần dần  nhường chỗ  cho nền  nông  nghiệp  hóa học  hóa muộn hơn, đặc biệt là từ khi nước ta được mở cửa nhìn ra thế giới, đó là những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX. 

2. Ưu và nhược điểm của nông nghiệp hữu cơ là gì? 

2.1- Ưu điểm của nông nghiệp hữu cơ

Ưu việt của nền nông nghiệp hữu cơlà các loại vật tư  sử  dụng cho trồng trọt, chăn nuôi đều xuất phát từ thiên nhiên, l ấy của thiên nhiên rồi trả  l ại cho thiên nhiên nên sản phẩm làm ra rất an toàn cho người và gia súc cũng như  môi trường sống. Chất lượng sản phẩm lại có mùi vị  ngon hơn, bảo quản dễ  dàng và lâu hơn, mẫu mã cũng đẹp mắt hơn, phù hợp với thị  hiếu của người tiêu dùng rộng rãi hiện nay. 

Các loại phân bón chủ  yếu từ  nguồn hữu cơ  là các phế  phụ  phẩm nông nghiệp, các rác thải sinh hoạt, các loại phân xanh, bùn ao, các lo ại chất thải của gia súc, gia cầm đều có chứa hàm lượng hữu cơ  cao, tỷ  lệ  các chất dinh dưỡng tuy thấp nhưng khá cân đối nên khi sử dụng lâu ngày có thể  làm cải thiện cấu trúc của đất, cải thiện độ phì nhiêu của đất làm cho đất trồng trọt được bảo vệ  tốt hơn. Đất và nước không bị  ô nhiễm các kim loại năng, hay dư thừa đạm nitrat (N03-). Không làm  ảnh hưởng đến khu hệ  vi sinh vật đất cũng như  các động vật hay côn trùng có lợi. Vì vậy, đất thực sự  được gọi là m ột vật thể  sống để  đảm bảo có một nền nông nghiệp bền vững. 

2.2- Những bất cập của nông nghiệp hữu cơ

Cây trồng muốn có năng suất cao, ngoài yếu tố  khí hậu, thời ti ết, cần được cung cấp đầy đủ, đúng chủng loại và và đúng lúc các chất dinh dưỡng (các loại khoáng). Nếu thiếu hay thừa một chất nào đó thì đều có ảnh hưởng đến sức khỏe và năng suất của cây (Achim Dobermann, 2000). 

Ngày nay các nước có hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế của họ đều sử dụng các giống mang gen di truyền cho năng suất cao đều có nhu cầu sử  dụng lượng chất dinh dưỡng khá cao và thời gian đòi hỏi được cung cấp dinh dưỡng giữa các thời kỳ  sinh trưởng rất gần nhau, do đó càng cần có các loại phân chứa hàm lượng dinh dưỡng cao. 

Ví dụ, m ột ruộng lúa ngắn ngày, thấp cây để  đạt được mức bình quân năng suất 5-6 tấn thóc khô/ha, thường phải bón thêm m ột lượng phân khoáng hay phối hợp với phân hữu cơ tương đương từ 80-120 kg N+ 30-60 kg P205+ 20-70 kg K20/ha (tính chung cho nhiều loại đất). Đối với ngô để  có năng suất 5-6 tấn ngô hạt cũng cần cung cấp khoảng 120-160 kgN + 50-90 kg P205+ 90-120 kg K20/ha. Với cà phê
để có năng suất cà phê nhân bình quân đạt 3,5-4 tấn cần cung cấp khoảng 300-360 kg N+ 90-120 kg P205+ 250-360 kg K20/ha (Trương Hồng, 1999). 

Với cây tiêu số  liệu  này còn cao hơn nhiều (Đỗ Trung Bình, 2012).Trong lúc đó nguyên liệu đầu vào của ác loại phân chuồng (lợn, bò, gà) thì  hàm  lượng N trung  bình  với phân  lợn (heo) khoảng 0,7-1% N, 0,2-,3% P205  và 0,5-0,7% K20. Phân bò có chứa khoảng 0,4%-0,6N, 0,1-0,2% P205  và 0,4-0,6% K20 A.Dobermann, 2000, tính theo trọng  lượng tươi). Với phân gà  hàm  lượng  các chất này  có cao hơn nhưng số  lượng thường ít. Còn trong rơm rạ  lúa chỉ  chứa khoảng: 0,4%N, 0,2% P205  và 2,1% K20 (Lê văn Căn, 1978,  tính  theo  chất  khô).  Với  hàm  lượng  dinh  dưỡng  trong  phân  và  rơm  rạ  như  vậy, nhưng không phải số  lượng dinh dưỡng này bón vào đất là có thể  cung cấp cho cây ngay mà tỷ  lệ  sử dụng cho cây rất thấp và rất chậm (khoảng 20-30%). Vì vậy người ta phải bón số  lượng nhiều, nếu  bón  ít  thì không  đủ  dinh  dưỡng.  

Trường  hợp  lúa  hè  thu  trồng  trên  đất  sông  Hồng  ở  Bắc Giang, 6 vụ  liên tục từ 1996-2001, bón nền phân khoáng 90N + 60P205 + 90 K20 + 200 kg Ca0 + 40 kg Mg 0  + 33 kg S/ha và nếu hàng năm bón bổ  sung 10 tấn phân chuồng, bình quân 6 vụ  cho năng suất 4,60 tấn. Nhưng cũng bổ sung 10 tấn phân chuồng mà không bón N thì bình quân năng suất chỉ có 3,34 tấn/ha, giảm 27,43% năng suất so với nền có bón N (90N). Công thức có bón bổsung 10 tấn phân chuồng sau 6 năm, năng suất tăng hơn năm đầu là 68%. Còn nếu hàng năm vẫn bón bổ  sung 10 tấn phân chuồng nhưng không bón đạm thì sau 6 năm năng suất chỉ  tăng hơn năm đầu có 43%, hay kém hơn nền có bón 90N là 34,5%. (Nguyễn Văn Bộ  và CTV, 2001). 

Nhưvậy, muốn có năng suất cao phải cần bón lượng phân chuồng nhiều hơn mức 20 tấn/ha. Đó là điều rất trở  ngại. Trong thực tế  nghề  trồng rau  ở  Việt Nam,  lượng phân  hửu cơ  bón khá  cao, nhưng vẫn chỉ  dùng làm nền, nông dân vẫn phải bón lượng N, P, K khá cao. Ví dụ, với cây cà chua,  ngoài khuyến cáo bón 30-35 tấn phân  chuồng/ha còn  bón 100-130kg  N, 80-100 P205  và 100-120 K20/ha. (Phương Anh và người khác, 1996). Đã có thí nghiệm bón phân hữu cơ, liều 20 tấn/ha cho lúa so sánh với nền bón 100% là phân hóa học và nền 50% phân hóa học phối hợp với 50% phân chuồng thì cho thấy công  thức bón 50% phân hóa học với 50% dinh dưỡng từ  phân chuồng cho năng suất tương đương với nền bón 100% phân hóa học, nền bón 100% phân chuồng (20 tấn/ha) cho năng suất thấp nhất. (Kỷ  yếu khoa học, Viện KHNNVN, Hà Nội, 1968). Một số mô hình nông nghiệp hữu  cơ làm trên rau  ở  Miền Bắc, ngay vụ  đầu đã cho năng suất cao, thực chất có đóng góp rất l ớn của hiệu lực tồn dư do nhiều năm bón phân hóa học số  lượng nhiều tích lũy lại. 

Một trong số nhược điểm khác là canh tác nông nghiệp hữu cơ khá tốn lao động sử dụng vào công làm cỏ, bón phân, chăm sóc, hơn nữa lượng chất hữu cơ  chế  biến phân bằng thủ  công vẫn còn có hạn. Ví dụ, phải cần đến số  lượng rơm rạ  khoảng 4-5 ha lúa để  có thể  chế  ra được 20-30 tấn phân ủ  với phân gia súc  ruộng lúa đạt 5 tấn thóc cho khoảng 5 tấn rơm rạ). Nếu bón liều 25-30 tấn phân hữu cơ/ha công lao động dành cho chế  biến và mang vác ra ruộng sẽ  tốn nhiều hơn sử  dụng phân hóa học. Muốn tinh giảm  lao động phải có công nghệ  chế  biến phân hữu cơ  sinh học hay hữu cơ  vi sinh công nghiệp với quy  mô lớn. Đã có thí nghiệm gần đây thực hiện trên cây hồ  tiêu, sử  dụng nền 100 kg N+ 150 Kg P205+ 225 kg K20, phối hợp với 20 tấn phân bò so với bón bổsung 3-4 tấn phân hữu cơ  vi sinh thì năng suất tiêu thu được giữa 2 nền ngang nhau (ĐỗTrung Bình, 2012). 

Nước ta đã có lúc đầu tư nhà máy chế  biến rác thải khá quy mô  ở Thành phốHồ  Chí Minh, hợp tác với Đan Mạch, xây dựng  ở  Hóc Môn, sau vài năm vận hành đã phải đóng cửa, lý do chính là giá thành cao, khách hàng không chấp nhận. Chính vì vậy dù nhiều thành phố đã từng xây dựng dự  án xây dựng nhà máy chế  biến rác thải nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cấp bách của dân sinh, tuy nhiên hầu hết các thành phố  lớn hiện  nay vẫn áp dụng quy trình chôn rác là chủ  yếu. 

3. Ưu và nhược của phân hóa học 

3.1-Ưu điểm

Do nhiều loại phân hóa học có chứa hàm lượng dinh dưỡng rất cao, và có đặc tính tan nhanh vào môi trường sau khi bón, nên cây trồng được bón phân hóa học thường sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao, số lượng bón ít nên giảm được công lao động. Ngày nay công nghệ  chế  phân trộn và phân phức hợp ra đời, phân l ại chứa đủ  các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cây nên đã đơn giản hóa việc bón phân cho người sử  dụng. Nhờ  có phân hóa học mà năng suất cũng như sản lượng mọi loại cây trồng trên thế  giới đều tăng rất cao so  với canh tác theo gói nông nghiệp hữu cơ cổ truyền. 

Từ khi có cuộc cách mạng hóa học trong nông nghiệp, nhiều nước trên thế giới đã thoát khỏi nạn thiếu lương thực, thực phẩm triền miên, nay nhiều nước đã có dư  thừa lương thực và thực phẩm bán ra trên thế giới. 

3.2- Nhược điểm của phân hóa học

Do trình  độ  nhận thức  về  tác dụng  của phân  hóa học còn  bị  hạn  chế  và do tính tác dụng nhanh và tạo ra màu xanh đẹp mắt của phân đạm mà khuynh hướng lạm dụng phân đạm trở  nên phổ  biến nên dẫn đến tác hại bón quá nhiều, quá mất cân đối, đã làm tăng  khả  năng hấp dẫn sâu bệnh đến phá hại cây trồng, do đó vừa làm cho việc sử  dụng thuốc hóa học trên đồng ruộng gia tăng, dẫn đến tốn nhiều chi phí, giết hại nhiều thiên địch, làm cho hệ  sinh thái côn trùng bị  phá vỡ  vừa làm cho nông sản kém an toàn, sức khỏe của người và gia súc bị  suy giảm và môi trường dễ  bị  ô nhiễm.  

Một số trường hợp lạm dụng phân hóa học và không chú ý kết hợp bón chất hữu cơ  lâu ngày đã gây cho môi trường đất có xu hướng bị  suy thoái (chất hữu cơ  bị  giảm, kết cấu đất rời rạc hơn, đất có xu hướng chua thêm, một số  chất dinh dưỡng bị  cạn kiệt, hệ  vi sinh vật có lợi bị   suy giảm, ngược lại các vi sinh vật gây hại có xu hướng gia tăng). 

Tuy nhiên, khi nhận biết được ưu và nhược điểm của phân hóa học thì chúng ta hoàn toàn có thể  có biện pháp khắc phục để  sử  dụng phân hóa học một cách hài hòa nhằm giảm thiểu những nhược điểm của nó đồng thời phát huy được tính ưu việt để  phục vụ  nền nông nghiệp được phát tri ển bền vững. Để  thực hiện được mục triêu này,  trước hết con người không nên có ý thức phủ định vai trò của phân hóa học trong nền nông nghiệp hiện đại, không nên quay lưng lại với phân hóa học và cũng không nên có thái độ  bài xích phân hóa học, một loại vật tư  mà trong hơn nửa thế  kỷ  vừa qua đã có công góp phần cứu  nhân  loại thoát khỏi nạn đói kém. Mặt khác ta cũng không nên có thái độ  một chiều, thái độ quá tả, chỉ nhìn thấy mặt ưu việt của nông nghiệp hữu cơ mà không thấy được mặt hạn chế của nó. 

SỰ LỰA CHỌN 

Dựa trên ưu và nhược của nông nghiệp hữu  cơ và nông nghiệp hóa học đã nêu, câu hỏi đặt ra trong hoàn cảnh cụ  thể  của Việt Nam hiện nay và cả  trong tương lai thì nên theo con  đường NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ  hay HỮU CƠ  HÓA  NÔNG NGHIỆP. Và nếu sản  xuất theo nông nghiệp hữu cơ thì nên thực hiện đến mức nào, trên đối tượng nào và cho thị   trường nào, câu trả lời là: thực hiện cả  nông nghiệp hữu cơ và NNHH, nhưng  cần thực hiện HỮU CƠ  HÓA NÔNG NGHIỆP 

1. Tại sao chúng ta cần áp dụng sản xuất theo nông nghiệp hữu cơ? 

Xét tính ưu việt của nông nghiệp hữu cơ và nhu cầu của khách hàng trên thị   trường thì nước ta cũng cần tham gia sản xuất theo nông nghiệp hữu cơ, nhưng do những hạn chế  như đã nêu, trong lúc Việt Nam còn phải dựa vào nông nghiệp để  đi lên và cũng nhờ  vào nông nghiệp để  tồn tại. Nông dân đang sống chủ  yếu vào nông nghiệp, họ  vừa cần có năng suất cao, vừa có giá bán hợp lý, trong lúc diện tích canh tác rất ít  ỏi, chưa nói đến nông nghiệp hữu cơ, những nhà nông sản xuất rau sạch, giá thành cao, bán không có lời bằng sản xuất theo nông nghiệp hóa học, vì vậy họ chưa mặn mà với nên nông nghiệp hữu cơ (vì chưa có thị  trường hấp dẫn). Do đó, ở nước ta vẫn cần khuyến khích áp dụng gói nông nghiệp hữu cơ, nhưng đối tượng áp dụng có thể  chỉ nên giới hạn với các cây trồng sau: 

1.1-  Về  trồng trọt, thực hiện trên  những cây rau ăn lá, rau ăn quả  tươi, rau gia vị , cây làm thuốc. Những loại cây này nông dân trồng trên diện tích nhỏ, có thể có đủ phân bón hữu cơ để sử dụng với số  lượng đủ để  đạt được năng suất cao  ở  mức chấp nhận được và cũng dễ  khống chế sâu bệnh, dị ch hại hơn. Mặt khác đây là loại sản phẩm ăn tươi nếu bị  ô nhiễm thì người tiêu dùng dễ  bị  ngộ độc hơn. Trên cơ sở  những cây đã nêu, có thể  mở rộng đến các cây làm thức uống nhưcác loại chè, cây ăn quả  dễ  bị  sâu bệnh phá hại như  nho, dâu tây hay một số  cây ăn quả  khác tùy điều kiện cụ thể. 

1.2- Về chăn nuôi áp dụng cho các loại gia cầm, thủy cầm. 

1.3- Về thủy sản: Tùy khả  năng và yêu cầu của khách hàng để quyết định. 

2. Tại sao phải tiếp tục phát triển nền nền nông nghiệp hóa học nhưng cần HỮU CƠ HÓA NÔNG NGHIỆP 

Đây là loại kỹ  thuật cần được mở  rộng và chiếm diện tích lớn nhất, lý do chính là thế  giới đang  có  nhu  cầu  sản  phẩm  từ  kỹ  thuật thực  hành  nông  nghiệp  tốt theo tiêu  chuẩn  GAP.  Tiêu chuẩn  GAP  không  cấm  sử  dụng  các  sản  phẩm  có  nguồn  gốc  hóa  học  mà  sử  dụng  tiêu  chuẩn khống chế các tồn dư của hóa chất ở giới hạn tối thiểu (MRL). Với tiêu chuẩn này trọng 6-7 năm vừa qua, nước ta đã tạo được nhiều mô hình từ  rau, quả  cho đến thóc gạo, các sản phẩm từ  cây công nghiệp và đã  được chứng nhận đạt tiêu chuẩn  VietGAP hay GlobalGAP. Thực tế  từ  1989 cho đến nay, Việt Nam xuất khẩu hơn 140 triệu tấn gạo chỉ  có một m ẻ khoảng vài chục ngàn tấn bị  xem xét vì chất Acetamiprid vượt quá 0,1 ppm hay chất Orysastrobin vượt quá 0,2 ppm, còn lại  đều  được  khách  hàng  đón  nhận  (Mai  Văn  Quy ền,  2009).  Với  m ột  số  sản  phẩm  khác  như thanh long có bị  trục trặc hoặc do chiếu xạ  chưa đạt, hoặc do ruồi đục hay mẫu mã chưa đạt nên bị  từ chối. 

Về thủy sản: có một số trường hợp dư  lượng kháng sinh cao, dư  lượng chất bảo quản cao là chủyếu  do công đoạn chế  biến, bảo quản chứ  không phải do công đoạn sản xuất tạo ra. Các sản phẩm tiêu thụ  nội địa như  một số  rau ăn lá bao gồm cải bẹ, cải ngọt, rau muống có bị  ô nhiễm thuốc sâu và cũng có gây ngộ  độc cho người tiêu dùng. Phần lớn ngộ  độc thực phẩm do nhiều nguyên nhân khác mang lại như để  thực phẩm bị  ôi, thối, thực phẩm đã bị  lên men hay quá hạn dùng mà vẫn tiếp tục sử  dụng. Các vụng  ộ  độc ở  các bữa tiệc hay nhà ăn tập thể  phần lớn xảy ra do thức ăn không bảo đảm vệ  sinh chứ  không phải do công  đoạn từ trồng trọt mang lại mà nhiều vụng ộ độc là do công đoạn chế  biến và bảo quản gây ra. 

Về  môi trường đất:  nghiên cứu của Nguyễn Đức Thuận và cộng sự  (2009)  ở  huyện Tháp Mười, Đồng Tháp trên đất trồng lúa 2 vụ  không có đê bao, 3 vụ  có đê bao hở  và 3  vụ  có đê bao kín,sử  dụng lượng phân hóa học liều cao, kết hợp phun thuốc trừ  sâu theo kỹ  thuật của nông dân thì  đều thấy  về  thành phần  nông  hóa trong đất có xu hướng gia tăng,  hàm  lượng  hữu cơ  tăng trong lúc đó năng suất lúa vẫn tăng đều (Nguyễn Đức Thuận  và cộng sự  2009). 

Một nghiên cứu khác trên đất cà phê của Viện Nghiên cứu Nông Lâm nghiệp Tây nguyên, sau 30 năm trồng cà phê liên tục, đất hàng năm được vùi thêm tồn dư thực vật, bón phân khoáng liều cao, liên tục, thì thành phần nông hóa đều tăng dần, hàm lượng chất hữu cơ  cũng tăng dần, đồng thời hàm lượng S dễ  tiêu tăng lên do bón liên tục phân có chứa S cao nhiều năm mang lại, ngược lại, hàm lượng Ca trao đổi bị   giảm sút (Tôn Nữ  Tuấn Nam, 2013). Đứng trên phạm vi vĩ  mô để  xem xét thì một số  đất dốc, đất xám do chế  độ  canh tác theo kiểu bóc lột đất và thi ếu biện pháp chống xói mòn đất thì  ở  đấy có hiện tượng đất bị   suy thoái. Còn tuyệt đại đa số  các vùng đất có độ  dốc thấp dùng trồng cà phê, cao su, tiêu hay cây lương thực, thực phẩm thì môi trường  đất sau nhiều năm dùng phân hóa học vẫn được bảo vệ  tốt, chỉ   cần đất được bón bổ  sung phân hữu cơ  hay ít ra là vùi lại cho đất m ột số  tàn dư  thực vật (Trương Hồng, 2013, Tôn nữ  Tuấn Nam, 2013). Với đất lúa ngập nước chỉ  cần để  lại gốc rạ  hay thậm chí thu hết rạ  thì hàm lượng hữu cơ  vẫn không bịsuy giảm, kể cả thí nghiệm lấy hết rạ ra khỏi ruộng sau 25 năm, (150 vụ) (Buresh và ctv, 2012). 

Ngày  nay các công ty đưa công  nghệ  chế  biến  NPK có chứa đầy đủ  các chất trung và  vi lượng, bón liều vừa phải, có bổ  sung phân hữu cơ đã hạn chế  hoặc làm mất hẳn tình trạng bón phân hóa học mất cân đối hay liều cao, và vừa mang lại năng suất cao, chất lượng nông sản an toàn, đạt tiêu chuẩn GAP. Các loại phân NPK của Đầu Trâu đều đạt được tiêu chuẩn như  vậy, do đó phân NPK Đầu Trâu được Cục Trồng trọt, BộNN& PTNT khuyến cáo sử  dụng cho các loại cánh đồng mẫu lớn (Mai Văn Quyền, 2013).

LỜI KẾT 

1  Cần áp dụng nông nghiệp hữu cơ vì tính chất ưu việt của nó, thể  hiện  ở  chất lượng  sản phẩm và độ  an toàn của môi trường sống, tuy nhiên do khách hàng còn hạn chế  nên cần có bước đi vững chắc. 

2 Cần tiếp tục thực hiện nền nông nghiệp hóa học, vì thực trạng nông dân Việt Nam có bình quân diện tích quá nhỏ, thực hiện nông nghiệp hóa học sẽ dễ có năng suất cao. Nhưng cần hữu cơ  hóa nông nghiệp là để khuyến khích nhà nông tận dụng các loại phân hữu cơ  bón cho cây. Khi lượng phân hữu cơ  tăng thì góp phần giảm thiểu lượng phân hóa học, giảm thi ểu tình trạng sử dụng thuốc hóa học sẽ giảm nguy cơ độc hại cho người, gia súc và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Đồng thời bảo đảm độ phì của đất được ổn định. 

Sản xuất nông nghiệp đạt tiêu chuẩn VietGAP hay GlobalGAP là nhu cầu của khách  hàng rộng rãi cả  trong nước  và trên thế  giới.  Có khách  hàng t ức sẽ  có thị   trường, sản phẩm sẽ  bán được giá, trong đó với tiêu chuẩn GAP thì nông dân Việt Nam đã có nhiều mô hình và khả  năng tổ  chức sản xuất có phần dễ  thực hiện hơn nhiều so với nông nghiệp hữu cơ. Vì vậy, hướng đi này sẽ  làm cho nông nghiệp hữu cơ  và hữu cơ hóa nông nghiệp được song song tồn tại, phát triển và sẽ  là hướng đi dễ áp dụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Mai Thị  Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần khắc Thi, 1996. Rau và trồng rau, giáo trình cao học, Nhà xuất bản Nông nghiệp, trang 164-176. 
2.  Achim  Dobermann  and  Thomas  Fairhurst,  2000.  Rice  nutrient  Disorders  &  Nutrient management, IRRI, P32-37 
3. Đỗ  Trung Bình,2012. Những biện pháp kỹ  thuật tổng hợp trong sản xuất cây tiêu theo  hướng bền vững, báo cáo tổng kết đề tài cấp bộ, trang 79-82. 
4. Nguyen Van Bo, Ernst Mutert, Cong Doan Sat, 2003. Balcrop Balanced fertilization for better crops in Vietnam, Printed by Oxford Graphic printers, P 83-87. 
5. Lê Văn Căn, 1978. Sổ tay phân bón, Nhà xuất bản Giải phóng, trang 13. 
6. Trương Hồng, 1999. Luận án tiến sĩ   Nông nghiệp, trang 119. 
7.  Mai  Văn  Quyền,  2009.  Những  điều  cần  biết  về  trồng  lúa  xuất  khẩu,  Nhà  xuất  bản  Nông nghiệp, trang 23-30. 
8.  Lê  Văn  Hưng,  2013,  Lịch  sử  nông  nghiệp  hữu  cơ,  trong www.google.com/searh/9=lich+sử+Phát+triển+nông+nghiệp+hữu+cơ. Ecomart.vn/home 
9. Tôn Nữ  Tuấn Nam, 2013. Kết quảnghiên cứu đất trồng cà phê  ở  Tây Nguyên, báo cáo tổng 
kết, lưu hành nội bộ. 
10. Mai Văn Quyền, 2013. Phân Đầu Trâu, bón ít hiệu quả  cao, trong Hội thảo về  nâng  cao hiệu quả quản lý và sử dụng phân bón tại Việt Nam, NXBNN, trang 465-470. 
9. Thomas Diorff, Thomas Fairhurst and Ernst Mutert, 2001. Soil fertility Kit, P 56. 
10. Nguyễn Đức Thận,2009. Báo cáo tổng kết đề tài” Nghiên cứu đánh giá tác động của canh tác nhiều vụ  lúa trong năm đến năng suất, hiệu quả kinh tế, tính chất đất và tính bền vững của sản xuất lúa vùng đất phèn Đồng Tháp Mười (2006-2008), trang 28-33 

GS. TS. Mai Văn Quyền 
Chủ tịch HĐTVKH, Cty CP Phân bón Bình  Điền 
Read more ...

Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)


IPM - (Intergrate Pest Managerment ) là quản lý dịch hại tổng hợp hay nói cách khác là sử dụng các biện pháp tổng hợp để quản lý dịch hại cây trồng, trên cơ sở sinh thái học sẽ làm tăng năng suất, cải thiện chất lượng nông sản phẩm, bảo vệ môi trường, và giảm chi phí đầu tư. 

Quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống điều khiển dịch hại bằng cách sử dụng hài hòa những biện pháp kỹ thuật như biện pháp sinh học, hóa học một cách thích hợp, trên cơ sở phân tích hệ sinh thái đồng ruộng một cách hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất và an toàn nhất. IPM đối với mỗi cây trồng có những đặc thù riêng.

3 biện pháp cơ bản trong IPM đối với cây hồ tiêu. (Piper nigrum Linneaus).

1- Biện pháp sinh học:
Con người đã tác động đến môi trường sinh thái bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch (côn trùng có ích) phát triển và thiên địch sẽ tấn công sâu hại. Sự đấu tranh tự nhiên này làm cân bằng sinh thái trong thiên nhiên. Ví dụ hạn chế phun thuốc sâu sẽ giữ được tắc kè, chuồn chuồn, bọ ngựa, kiến vàng, bọ rùa, nhện là những loài chuyên ăn rệp hại trên cây tiêu, nhất là rệp sáp. Không cần phun thuốc hóa học mà vẫn tiêu diệt rệp sáp, xét về mặt hiệu quả kinh tế lợi hơn nhiều. Rệp, rệp sáp trên vườn tiêu sẽ bị các thiên địch tiêu diệt nếu chúng ta không xua đuổi và bắt hay tiêu diệt thiên địch.

2- Biện pháp kỹ thuật:

a) Chọn giống tiêu tốt: 


Chọn những giống tiêu có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Hiện có rất nhiều giống tiêu đang trồng tại Việt Nam, tuy nhiên tại vùng này có thể phát triển tốt, kháng bệnh khá nhưng vùng khác có thể kháng bệnh kém. Do vậy tùy mỗi địa phương có thể chọn những giống phù hợp nhất để trồng. Ví dụ: Giống Lada Belangtoeng nguồn gốc từ Indonesia có lá to xanh đậm du nhập vào Việt Nam từ những năm 50 thế kỷ trước, giống này dễ trồng, cho năng suất khá cao, leo mau, dây lá rất xanh tốt. Tại bà rịa vũng tàu giống này kháng bệnh thối rễ khá, nhưng đưa lên trồng tại Tây nguyên do mùa mưa tập trung ẩm quá cao nên kháng bệnh rễ lại kém.

- Giống Pannijur-1 nguồn gốc Ấn độ, được nhập nội Việt Nam từ 1989, chín sớm, chín khá đồng đều, năng suất cao, kháng bệnh tốt tại Bà rịa nhưng tại Bình phước giống này kháng bệnh chỉ ở mức trung bình.

b) Nhân giống: 

- Chỉ cắt cành ương từ các vườn không  nhiễm sâu bệnh, những vườn có năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá và có nhiều đặc tính tốt.

- Các cây mẹ để cắt cành ươm phải là những cây tốt nhất, được chọn lọc trong vườn cây tốt (trong một vườn tốt vẫn có những cây chưa tốt hoặc không đạt yêu cầu làm giống).

- Độ tuổi cây mẹ: Chỉ nên cắt cành ươm từ những cây mẹ từ 3-4 năm tuổi, nên dùng các cành thân chính để ươm giống (không dùng cành ác làm hom giống). 

- Giâm cành ươm vào bầu Nylon đục 8 lỗ, trước khi dâm hom vào bầu xử lý hom bằng Bordeaux 1%, Aliette 0,2-0,%, hay Rovral 0,2-0,3% .Xử lý nấm bệnh ngay từ khi ương bầu. Nếu xử lý và chọn lọc hạn chế nguồn bệnh ngay từ khi nhân giống sẽ hạn chế một phần dịch bệnh sau này.

Nhân được các giống tốt sạch bệnh là một trong những yếu tố thành công cho quản lý dịch hại tổng hợp sau này.

c) Thiết kế và chăm sóc vườn cây:
Vườn tiêu tồn tại hàng chục năm, do vậy cần thiết kế khoa học và hợp lý ngay từ đầu, đảm bảo mật độ vừa phải, tùy theo khả năng đầu tư của mỗi gia đình (không nhiều phân hữu cơ, vô cơ bón hàng năm nên trồng thưa hơn nhưng vẫn đảm bảo 20kg phân chuồng, 0,5 kg vôi, 0,5kg lân/gốc và NPK theo quy trình kỹ thuật).

-Miền Nam có lượng mưa khá lớn và tập trung vào các tháng cuối mùa mưa, do vậy độ ẩm không khí và đất rất cao, tiểu khí hậu đồng ruộng khá ẩm ướt nên cần trồng mật độ thích hợp để không che cớm lẫn nhau, dễ bị nhiễm các bệnh trên thân lá.

- Nọc sống: Có thể bố trí mật độ khoảng cách  2,5 x 2,5 hoặc 3 x 3 m ( 1.600 - 1.200 gốc/ha).

- Nọc betong: Có thể bố trí khoảng cách mật độ 2,5 x 2,5 m hoặc  (1.600 gốc,/ha). 

- Cây nọc chết bằng gỗ không được khuyến cáo sử dụng để tránh nạn phá rừng và nấm bệnh.

- Cây nọc sống - trong vườn tiêu người ta hạn chế tối đa việc dùng cây Anh đào, Lồng mức, bình linh dùng làm cây nọc sống vì những cây này là môi trường tốt đê rệp sáp sinh sôi, nó là ký chủ của rệp sáp hại tiêu. Có thể dùng rất nhiều cây để làm nọc sống tùy mỗi địa phương như cây  keo rừng, cóc rừng…Nên thiết kế hàng cây theo hướng Đông –Tây để tận dụng nhiều ánh sáng mặt trời nhất.

d) Xen canh:

Vườn trồng tiêu nọc chết được xen canh cà phê, sầu riêng. bơ...và thường trồng trên bìa lô xung quanh vườn  sẽ tạo hàng rào che chắn gió. Nó còn có tác dụng che bớt ánh sáng bức xạ trực tiếp, tạo môi trường sinh thái hài hòa và tạo thêm thu nhập.

3- Biện pháp hóa học:


Đây là biện pháp cuối cùng khi phải bảo vệ cây trồng khỏi dịch hại tấn công mà các biện pháp trên không có hiệu quả và dịch hại phát triển quá ngưỡng kinh tế cho phép. Tuy nhiên sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) phải ưu tiên thuốc sinh học không độc hại cho môi trường và nông sản, sau đó mới đến thuốc hóa học. Thuốc hóa học phải ưu tiên sử dụng loại thuốc ít độc hại cho môi trường, thuốc ít tồn tại trong nông sản và mau phân hủy. Khi sử dụng thuốc hóa học BVTV phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng liều lượng nồng độ, đúng lúc, đúng cách ).

- Đúng thuốc: Chọn loại thuốc phù hợp ghi trên nhãn bao bì, đúng đối tượng dịch hại.

- Đúng liều lượng nồng độ: không pha nồng độ cao lãng phí và độc hại, không pha quá loãng không diệt được sâu bệnh lại phai phun thêm lần sau. Pha thuốc theo hướng dẫn trên bao bì của thuốv BVTV.

- Đúng lúc: Phun thuốc đúng thời điểm sâu còn non dễ tiêu diệt. Phun thuốc khi mới nhiễm bệnh sẽ dễ trị bệnh hơn khi đã quá nặng.

- Đúng cách: Loại rệp ẩn mặt dưới của lá thì phải phun mặt dưới, tuyến trùng hại rễ hồ tiêu thì phải tưới thuốc vào rễ, bệnh đốm lá phải phun thuốc mặt trên của lá…Riêng đốm lá do nấm Rosellina sp, mặt dưới lá bị bệnh có các vết nâu rải rác và tập trung ở bìa lá nặng thì toàn lá héo vàng, có thê dùng Carbenzim 500FL hoặc Topsin M70WP (10cc/bình 8 lít phun đẫm) nên phải phun thuốc vào mặt dưới lá mới có tác dụng.

- Dùng loại thuốc trong danh mục cho phép của Bộ NN&PTNT 

IPM không phải là một quy trình kỹ thuật cụ thể, mỗi nơi mỗi cây trồng có những đặc thù riêng nên cần áp dụng phù hợp mới mang lại hiệu quả cao.


VPA
Read more ...

Wednesday, January 8, 2014

Dinh dưỡng hiệu quả cho tiêu sạch


Ở nước ta, nhiều nơi sản xuất tiêu bón phân vượt từ 4 - 5 lần khuyến cáo, gây tốn kém, độc hại và dẫn đến ô nhiễm môi trường.Trong khi, theo khuyến cáo của các nhà khoa học thì lượng phân vô cơ bón cho 1ha tiêu để đạt năng suất cao nhất và hiệu quả kinh tế là từ 200 – 400kg N, 100 – 200kg P2O5, 225 – 400kg K2O trong mỗi năm, tùy theo chân đất và loại trụ trồng tiêu. 

Việc bón bổ sung phân hữu cơ hoặc phân bón lá đã cung cấp thêm một lượng dinh dưỡng khoáng đa lượng, trung và vi lượng cho cây tiêu. Phân gà và phân hữu cơ chế biến có tác dụng tốt trong phòng trừ bệnh chết nhanh do nấm Phytophthora capsici.Sản xuất hồ tiêu hữu cơ không áp dụng phân bón, cũng như không sử dụng thuốc trừ sâu bệnh hóa học. Người sản xuất cần có kỹ thuật cao như biết trồng xen hồ tiêu với các cây phân xanh, hoặc cây họ đậu tạo điều kiện cung cấp các chất dinh dưỡng kết hợp có hiệu quả. 


Ngoài ra, nông dân cần tận dụng vật chất nông nghiệp phế thải như cành lá cây, phụ phẩm cây trồng, cỏ dại, phân gia súc gia cầm có sẵn trong nông hộ hoặc tại địa phương để chế biến thành phân trộn hữu cơ theo đúng kỹ thuật bón cho cây tiêu nhằm tăng cường độ phì nhiêu trong đất. 


Hiện nay, việc sản xuất hồ tiêu theo hướng hữu cơ còn mới mẻ và chưa có quy trình khuyến cáo mức phân bón và loại phân bón hữu cơ cụ thể như sản xuất thông thường. Một số tài liệu khoa học tin cậy khuyến cáo áp dụng phân bón trong sản xuất hồ tiêu với lượng 5 - 10kg phân chuồng cộng với 5 - 10kg phân trộn hữu cơ cho một trụ tiêu căn cứ vào độ tuổi cây tiêu mà bón nhiều hoặc ít. Cung cấp chất lân (P) bằng bón quặng photphat hoặc bột xương hay bón tro gỗ nhằm cung cấp bổ sung chất lân (photphorus) và kali (potassium) cho cây tiêu. Đất phèn tăng cường bón vôi. 


Khi cây tiêu biểu hiện thiếu các yếu tố dinh dưỡng vi lượng dẫn đến giảm năng suất, ở các nước sản xuất hồ tiêu hữu cơ như Ấn Độ, khuyến cáo có thể sử dụng hạn chế một lượng phân hóa học hoặc phân khoáng dinh dưỡng vi lượng và phân magiê sunfat trong tiêu chuẩn đã được cho phép bởi một cơ quan cấp chứng nhận hữu cơ. Đồng thời bón bổ sung bánh dầu (như bánh neem, 1kg/trụ), phân trộn xơ dừa (2,5kg/trụ) hoặc phân trộn vỏ cà phê giàu chất kali, giúp nuôi dưỡng vi khuẩn Azospirillum và vi khuẩn hòa tan lân nhằm cải thiện độ màu mỡ của đất trồng tiêu.  Ngoài ra, sản xuất hồ tiêu hữu cơ chỉ cho phép áp dụng thuốc trừ sâu bệnh sinh học phối hợp với các biện pháp canh tác và vệ sinh đồng ruộng trong việc phòng trừ sâu bệnh cho cây tiêu.


TS Nguyễn Công Thành (Danviet.vn)
Read more ...

Hồ tiêu - thay đổi để giữ vị thế

Những năm qua, trong khi hầu hết mặt hàng nông sản xuất khẩu đều giảm giá, thì hồ tiêu vẫn vững vàng đứng ở mức cao. Năm 2013, theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), các doanh nghiệp xuất khẩu 135.000 tấn, đạt giá trị 900 triệu USD, tăng cả về lượng, giá và kim ngạch. Hiện nay, giá hồ tiêu trong nước khoảng 170.000 đồng/kg. Hồ tiêu Việt Nam cùng với cà phê Robusta và nhân điều có lượng giao dịch lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 50% và là ngành hàng duy nhất có thể chi phối được phần nào giá khi có sự tham gia dự trữ và điều tiết từ người dân, không bán ra ồ ạt khi giá giảm.

Anh Hoàng Việt Hưng ở xã Ea Po, huyện Cư Jut bên vườn tiêu đã được phục hồi, hứa hẹn bội thu.


Có tránh "vết xe đổ"?

Năng suất hồ tiêu Việt Nam cao gấp 2,9 lần so với Indonesia, gấp 8,2 lần so với Ấn Độ nên có tính cạnh tranh nhờ giá thành thấp và chất lượng không thua kém các nước xuất khẩu khác về mùi vị, màu sắc, hàm lượng dầu. Việt Nam trở thành nước sản xuất hồ tiêu hàng đầu, chiếm 35% sản lượng và gần 50% thị phần thế giới.

Năm 2013, hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu đạt giá trị 900 triệu USD với khoảng 135.000 tấn, đang chiếm lĩnh thị trường Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan... 3 năm gần đây có thêm 6.000ha trồng mới, đưa diện tích hồ tiêu ngấp nghé 60.000ha. Nhưng cái giá cho sự phát triển ồ ạt này không nhỏ, luôn tiềm ẩn nguy cơ do hồ tiêu được trồng chuyên canh với mật độ dày, 1.500 - 2.500 trụ/ha, theo hướng thâm canh nên rất nhạy cảm với sâu bệnh.

Do quá lạm dụng phân bón hóa học, hệ lụy là vi sinh vật có ích trong đất và các loại thiên địch hầu như bị tiêu diệt, làm phát sinh dịch bệnh tràn lan như bệnh rệp sáp… Nguy hiểm nhất là bệnh “chết nhanh”, “chết chậm”, “tiêu điên”. Càng bị dịch bệnh, càng phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn nên môi trường đất bị ảnh hưởng nặng, khiến nhiều vườn tiêu bị suy kiệt, tuổi thọ cây giảm hẳn, thậm chí nhiều vườn tiêu bị chết hoàn toàn.

Đó là chưa nói đến tồn dư hóa chất trong sản phẩm khó tránh khỏi, trong khi những thị trường chính hồ tiêu Việt Nam ngày càng đòi hỏi khắt khe về chất lượng, sản phẩm phải đạt chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, không được tồn dư hóa chất và vi sinh vật gây hại.

Những quốc gia từng là số 1 thế giới về xuất khẩu hồ tiêu như Indonesia, Ấn Độ cũng vì lạm dụng phân bón hóa học nên sau thời gian phát triển ồ ạt đã phải trả giá cho sự thiếu bền vững này. Đây là bài học mà Việt Nam cần quan tâm để tránh đi vào “vết xe đổ”.

Khẳng định vai trò phân hữu cơ 

Khảo sát của Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam (KHKTNNMN) cho thấy, người dân trồng hồ tiêu ở những vùng trồng tập trung từ Tây Nguyên, Đông Nam bộ và duyên hải miền Trung sử dụng phân bón vô cơ cao hơn khuyến cáo, lại không cân đối, và điều quan trọng mà người dân trồng hồ tiêu chưa chú ý, đó là ít sử dụng phân hữu cơ. Những điều này cùng với các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa đúng, tạo điều kiện sâu bệnh xảy ra khá phổ biến, gây ảnh hưởng rất lớn đến các vùng trồng tiêu.

Viện KHKTNNMN cũng ghi nhận, nơi nào sử dụng nhiều phân hữu cơ (bao gồm phân xanh và thân lá thực vật) thì ít xuất hiện sâu bệnh hơn. Ngoài việc giúp giảm thiểu sâu bệnh, phân hữu cơ còn có vai trò quan trọng trong việc làm tăng độ phì trong đất và giúp nâng cao hiệu quả sử dụng phân vô cơ. Việc chú trọng sử dụng phân hữu cơ trong thâm canh hồ tiêu là phương thức hiệu quả, bền vững, nhưng nguồn phân hữu cơ sử dụng phải đảm bảo chất lượng để không đưa độc tố vào đất trồng.

Theo TS Đỗ Trung Bình, để năng suất duy trì ở mức độ cao phù hợp, vườn tiêu khỏe cần phải bón đầy đủ và cân đối giữa phân hữu cơ và vô cơ. Việc áp dụng GAP vào sản xuất hồ tiêu hướng tới sự bền vững là đòi hỏi cấp bách. Những mô hình sản xuất hồ tiêu theo hướng GAP ở Gia Lai, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, đảo Phú Quốc (Kiên Giang) đã đáp ứng tốt yêu cầu về chất lượng tiêu đen xuất khẩu, không sâu mọt, nấm mốc và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đều dưới ngưỡng quy định cần được nhân rộng. Có thể nói, đó là hướng đi tất yếu nếu muốn duy trì ngôi vị số 1.

GS-TS Nguyễn Thơ - Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ thực vật Việt Nam, cho biết, canh tác cây tiêu theo hướng hữu cơ là tất yếu vì đó là con đường bền vững. Vấn đề là làm sao nông dân chọn được sản phẩm thật sự chất lượng. Theo ông, trong quá trình khảo sát thực tế nhiều tỉnh Tây Nguyên trên những vườn tiêu suy kiệt sau thời gian lạm dụng phân hóa học, có dấu hiệu bị bệnh chết chậm mà cán bộ khuyến nông khuyến cáo chặt bỏ, việc sử dụng phân hữu cơ sinh học Vinaxanh đã giúp phục hồi tốt về năng suất, tăng tính chống chịu, giảm 40% lượng phân hóa học. Đây là sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất từ nguyên liệu ngay trong nước với sự hợp tác giữa Trung tâm Tư vấn và hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn (Hội Làm vườn Việt Nam), các cộng sự Công ty Nông Nghiệp Xanh Việt Nam và các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm và Khoa học công nghệ Việt Nam, phù hợp với sự phát triển cây hồ tiêu theo hướng bền vững, hữu cơ, GAP.

CÔNG PHIÊN - Báo SGGP Online
Read more ...

Giải pháp mới canh tác cây tiêu bền vững: Tăng năng suất 35%, giảm 4% phân bón hóa học



Để người trồng hồ tiêu chăm sóc vườn đạt hiệu quả tối ưu, Trung tâm tư vấn và hỗ trợ phát triển NN&NT (Hội làm vườn Việt Nam) và các nhà khoa học vừa chuyển giao một loại phân hữu cơ sinh học (HCSH) cao cấp Vinaxanh, có thể tiết kiệm 40 - 60% phân hóa học, năng suất tăng từ 20 - 35%. Vườn tiêu chống chịu tốt, không bị chết trong mùa mưa. Vinaxanh giúp phòng ngừa bệnh chết nhanh, phục hồi vườn tiêu bị chết chậm.

Nghiên cứu mới phục vụ nông dân

Đây sản phẩm hợp tác nghiên cứu sản xuất của KS. Nguyễn Thanh Thủy - phó giám đốc Trung tâm tư vấn  và hỗ trợ phát triển NN&NT (nguyên giám đốc Trung tâm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thuộc Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam (Bộ NN&PTNT) và các cộng sự cùng các nhà khoa học thuộc ICT-VAST - Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam. 

Để chuyển giao tiến bộ mới đến nông dân, trong năm 2012 - 2013, Trung tâm tư vấn và hỗ trợ phát triển NN&NT  phối hợp với các nhà khoa học, Công ty nông nghiệp xanh Việt Nam (Hội làm vườn Việt Nam) hỗ trợ nông dân xây dựng nhiều mô hình ứng dụng phân bón HCSH Vinaxanh trên cây hồ tiêu tại tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông. Tất cả các vườn tiêu được sử dụng phân này đều cho kết quả rất tốt. Vinaxanh không những có khả năng phục hồi vườn tiêu suy yếu, cằn cỗi, kém phát triển mà còn giúp cho các vườn tiêu phát triển tốt, tăng cành nhánh, thúc đẩy quá trình ra hoa đồng loạt, hoa ra nhiều, chuỗi hoa dài, sai trái, chống rụng trái non, trái đều, bóng mượt. Khả năng kháng sâu bệnh tốt và đặc biệt Vinaxanh giúp cây tiêu chống chịu rất tốt với những điều kiện bất lợi của thời tiết, khí hậu và mùa khô hạn, mưa dầm Tây Nguyên.

Phục hồi vườn tiêu hiệu quả

Vườn tiêu sắp phá bỏ vì bị bệnh của anh Hoàng Việt Hưng ở thôn Suối Tre, xã EaPo, huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông có 320 trụ. Cả vườn tiêu bị bệnh hại tấn công khiến cây bị vàng vọt, lá và các lóng tiêu bị rụng từ dưới gốc lên ngọn. Trong lúc chờ phá bỏ vườn tiêu đầu tư bạc triệu, anh Hưng được cán bộ kỹ thuật tìm đến và hỗ trợ phân HCSH Vinaxanh. Anh sử dụng như cầu may vì đã qua sử dụng nhiều phân thuốc nhưng cũng không phục hồi được. Khoảng 10 ngày sử dụng,  vợ chồng anh Hưng bất ngờ vì các trụ tiêu sắp chết trong vườn đã đâm chồi ra cành mới và bắt đầu xanh trở lại. Anh tiếp tục sử dụng Vinaxanh trên cả vườn và kết quả vượt hơn mong đợi, vườn tiêu của anh giờ đã sống lại cả vườn 320 trụ. Vợ chồng anh vui mừng vì không phải bỏ vốn hàng trăm triệu đồng và công sức đầu tư trồng mới.

Ông Lê Đình Hưng, ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk có 1.300 trụ tiêu trồng năm 2001. Nhiều năm qua, ông Hưng canh tác theo kinh nghiệm của mình, lạm dụng phân bón hóa học, ít sử dụng phân hữu cơ, đến khi vườn tiêu suy kiệt, lá vàng, rụng lóng và biểu hiện chết trụ ông mới chạy thuốc cho vườn tiêu. Ông Hưng được Công ty nông nghiệp xanh Việt Nam tìm đến hướng dẫn cách phục hồi vườn tiêu suy kiệt này. Vườn tiêu hiện không chỉ phục hồi tốt mà cây còn trổ bông nhiều, đậu trái rất nhiều, chùm trái dài. Ông Hưng rất phấn khởi vì ngoài phục hồi vườn tiêu thành công mà năng suất còn tăng cao. 

Vườn tiêu anh Trần Đăng Sam, trưởng thôn Suối Tre, có 800 trụ tiêu trồng năm 1999 đã già cỗi, suy yếu. Năm 2012 thấy tình trạng vườn tiêu xấu, cho năng suất thấp nên anh Sam tính phá đi trồng lại. Khi nghe giới thiệu phân bón HCSH Vinaxanh, lúc đầu anh còn nghi ngờ, vì có quá nhiều phân bón nhưng không cho kết quả như giới thiệu. Sau khi tìm hiểu, anh đã mạnh dạn ứng dụng, kết quả vườn tiêu năm nay như được trẻ lại, xanh tốt, ra bông, chùm trái dài, đậu trái tốt, mỗi trụ tiêu tăng trung bình 1 - 2 kg (20 - 30%). 

Ông Trần Hữu Tiến ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc, huyện Krông Năng, tỉnh Đăk Lăk cho biết, sau khi sử dụng Vinaxanh không chỉ vườn tiêu xanh tốt mà cho năng suất rất cao, lá dày không mỏng yếu, cây khỏe mạnh, sung sức. Cây tiêu trổ bông nhiều, khắc phục được hiện tượng rụng bông rụng trái non, cho tỷ lệ đậu trái cao, trái phát triển tốt, to và bóng trái, chắc hạt. Vườn ông Tiến có tiêu bị bệnh chết chậm, lá vàng, phần gốc đã bị rụng lá, rụng lóng chuẩn bị hủy bỏ, ông sử dụng thử Vinaxanh cứu sống trụ tiêu bị bệnh này. Ông Tiến phấn khởi: "Năm nay, nhờ sử dụng phân HCSH Vinaxanh mà vườn tiêu bội thu, trung bình tăng khoảng 2 - 3 kg tiêu/trụ. Năm trước chỉ thu 5 - 6 kg/trụ, năm nay lên 8 - 9 kg/trụ. Trong khi giảm được trên 60% phân hóa học và không phải phun thuốc trừ bệnh như trước đây".

Chuyển giao cho nông dân 

KS. Nguyễn Thanh Thủy cho biết, đây là phân HCSH do Việt Nam sản xuất hoàn toàn theo công nghệ hiện đại phục vụ nông dân. Qua hơn 2 năm theo dõi và đánh giá thực tiễn cho thấy, khi sử dụng phân HCSH Vinaxanh cây sinh trưởng và phát triển mạnh, nhiều chủ vườn giảm 50 - 60% phân bón hóa học. Cây trổ bông nhiều, phát bông ra dài, đậu trái sai từ trong ra ngoài, khắc phục được hiện tượng rụng bông, rụng trái non. Chùm trái to, dài, chắc hạt, đẹp, nếu vườn tiêu khỏe, canh tác đúng quy trình năng suất có thể tăng năng suất từ 20 - 40%. Đáng chú ý nhất là phân HCSH Vinaxanh tăng cường sức đề kháng của cây trồng đối với sâu bệnh, phòng ngừa bệnh chết nhanh. 

GS.TS. Nguyễn Thơ, phó chủ tịch Hội bảo vệ thực vật Việt Nam nhìn nhận, canh tác cây tiêu theo hướng hữu cơ là tất yếu vì đó là yếu tố bền vững. Tuy nhiên, làm sao nông dân phải chọn được sản phẩm thật sự chất lượng. Phân HCSH Vinaxanh được nghiên cứu và sản xuất bài bản cùng với ICT-VAST (Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam) hướng đến giá trị thật phục vụ sản xuất nông nghiệp. Qua thực tế sử dụng cho thấy phân cho kết quả tốt trong việc phục hồi, tăng tính chống chịu, giúp cây ra hoa tốt, trái rất sai, khả năng chống chịu tốt.

Theo ANH ĐỨC - Báo Điện Tử Khoa Học Phổ Thông
Read more ...

Tuesday, January 7, 2014

Canh tác hữu cơ cho tiêu, sự lựa chọn là tất yếu.

Không ai có thể phủ nhận tiến bộ khoa học của các sản phẩm sử dụng trong nông nghiệp, trong đó có các loại phân hóa học và các loại thuốc bảo vệ thực vật gốc hóa học. Thời hoàng kim của các sản phẩm nói trên tồn tại suốt mấy mươi năm.

Tuy nhiên không phải vô cớ mà các nhà khoa học ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến hiện nay lại kêu gọi mọi người theo hướng hữu cơ, sinh học, bảo vệ dịch hại cây trồng theo phương pháp IPM, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn GAP mới hội đủ điều kiện xuất khẩu… Vì sao vậy? Vì sức khỏe con người và sức khỏe của đất. Trong quá trình canh tác con người đã đổ xuống đất bao nhiêu thứ độc hại để đòi hỏi đất phải đem lại nhiều của cải vật chất cho mình. Nhưng đã bao giờ con người tự hỏi mình đem lại những gì cho đất, để đất đai luôn màu mỡ như thuở ban đầu chúng ta chưa khai thác, như một lời tạ ơn với đất. 

Thế giới bây giờ phẳng rồi. Những thông tin khoa học kỹ thuật trên thế giới được công bố hằng giờ. Người biết sử dụng vi tính muốn tìm kiếm thông tin về kỹ thuật chăm sóc cho cây hồ tiêu trên các trang tài liệu khoa học không khó. Thế nhưng những người trồng tiêu hơn cả chục năm rồi mà trong đầu luôn mãi vang lên câu hỏi vì sao: vì sao tiêu chết? vì sao tiêu không trái? vì sao… và vì sao…?

Tất nhiên là không thể phủ nhận vai trò của phân vô cơ và hóa chất BVTV đối với canh tác nông nghiệp. Nhưng thời gian qua chúng ta đã không sử dụng nó một cách hợp lí mà chúng ta chỉ biết lạm dụng nó để tăng nhanh năng suất.Cái giá chúng ta phải trả bây giờ chỉ mới bắt đầu: Đất đai bị vắt cạn kiệt trở nên cằn cỗi, thoái hóa. Môi trường canh tác bị ô nhiễm nặng nề bởi những chất thải độc hại. Cây trồng giảm sức đề kháng, dễ dàng chết vì lắm bệnh dịch hại. Tái canh cực kỳ khó khăn vì tồn dư hóa chất trong đất…

Và con người, có ai thống kê được số người chết tăng cao vì bị ung thư và những bệnh lạ ngày càng xuất hiện nhiều ở nông thôn? Môi trường trong lành của nông thôn không còn nữa khi mà ra vườn thấy bao bì chai lọ thuốc BVTV tràn lan và bao con thiên dịch có lợi cho đất cho cây không tồn tại nổi…

Canh tác hữu cơ, sự lựa chọn là tất yếu trước khi quá muộn. Xin bà con nông dân sớm nhận thức và chuyển biến.

Ý kiến người trồng tiêu
Read more ...

Wednesday, March 30, 2011

Kỹ thuật canh tác GAP

GAP - Là những nguyên tắc, được thiết lập nhằm đảm bảo một môi trường sản xuất an toàn, sạch sẽ. Thực phẩm phải đảm bảo không chứa các tác nhân gây bệnh như chất độc sinh học (độc tố Aflatoxin của nấm, vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng…), và hóa chất (dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, hàm lượng nitrat...). Đồng thời sản phẩm phải đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử dụng, an toàn cho cả người sản xuất ra sản phẩm và người sử dụng sản phẩm, sản xuất phải thân thiện môi trường.

GAP bao gồm cả việc sản xuất theo hướng lựa chọn địa điểm, sử dụng đất đai, phân bón, nước, phòng trừ sâu bệnh hại, thu hoạch, đóng gói, chế biến, tồn trữ, vệ sinh đồng ruộng và vận chuyển sản phẩm, v.v…

a) An toàn cho thực phẩm:

 Các tiêu chuẩn này gồm các biện pháp để đảm bảo không có hoá chất, nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch như:

+ Nguy cơ nhiễm sinh học: virus, vi khuẩn, nấm mốc và các độc tố sinh học.

+ Nguy cơ hoá học: dư lượng thuốc BVTV.

+  Nguy cơ về vật lý. NS được chiếu xạ và biến đổi gen.

 b) An toàn cho người sản xuất:

 Mục đích là càng sử dụng ít thuốc BVTV càng tốt, nhằm làm giảm thiểu ảnh hưởng của dư lượng hoá chất lên con người và môi trường:

+ Quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp (Intergrated Pest Management = IPM).

+  Quản lý mùa vụ tổng hợp  (Itergrated Crop Management = ICM).

+ Giảm thiểu dư lượng hóa học (MRL = Maximum Residue Limits) trong sản phẩm.

 c) Bảo vệ môi trường:

 Nhằm tiến tới 1 nền nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường, tạo sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên, chống ô nhiễm và hủy diệt môi trường. Không dùng hóa chất độc hại tiêu diệt côn trùng và thiên địch.

 d) Truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm:
 GAP tập trung rất nhiều vào việc truy nguyên nguồn gốc. Nếu khi có sự cố xảy ra, các siêu thị, các nhà phân phối phải thực sự có khả năng giải quyết vấn đề và thu hồi các sản phẩm bị lỗi. GAP là sản xuất có kiểm soát nên chúng ta biết chính xác bón phân gì, phun thuốc gì, mức độ độc hại, trồng giống gì...trồng trên vùng đất nào...

Tiêu chuẩn này cho phép chúng ta xác định được những vấn đề từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.

2.GAP mang lại lợi ích gì:

GAP mang lại nhiều lợi ích dựa trên cơ sở 3 nhóm lợi ích sau đây:

 1) An toàn: Nông sản trước hết phải an toàn, dư lượng các chất gây độc (dư lượng thuốc BVTV, hàm lượng nitrát, kim loại nặng...) không vượt mức cho phép. Không nhiễm vi sinh và độc tố của vi sinh (Aflatoxin độc tố của nấm mốc trong nông sản). Đảm bảo sức khoẻ cho người tiêu dùng. An toàn cho người sản xuất ra sản phẩm, an toàn cho môi trường sản xuất và chế biến sản phẩm.

2) Chất lượng cao (hàm lượng dinh dưỡng cao, hình thức đẹp…): Chọn những giống cây trồng cho sản phẩm có thành phần dinh dưỡng, khoáng chất  cao, vị thơm ngon đặc trưng, có hình thức sản phẩm hấp dẫn người tiêu dùng. Chọn phương pháp chế biến phù hợp để có sản phẩm tốt, chất lượng cao hình thức đẹp sẽ được người tiêu dùng chấp nhận.

3) Bảo vệ môi trường:Các quy trình sản xuất theo GAP hướng sinh học nên môi trường được bảo vệ và an toàn cho người lao động khi làm việc, bảo vệ sự cân bằng sinh thái tự nhiên, bảo vệ thiên địch.

Mỗi nước đều xây dựng tiêu chuẩn GAP của mình theo tiêu chuẩn Quốc tế. Hiện nay có USGAP (Mỹ), EUREPGAP (Liên minh châu Âu), các nước Đông Nam Á có  (ASEAN GAP)…

Tuy vậy mỗi nước đều xây dựng GAP riêng cho mình để phù hợp với điều kiện sinh thái và tình hình sản xuất của mỗi địa phương và phù hợp với mỗi loại cây trồng cụ thể.

3. Sự cần thiết đưa sản xuất theo hướng GAP vào sản xuất:

Khi Việt Nam gia nhập WTO là bước vào sân chơi mới rộng lớn hơn trên toàn cầu đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn khắt khe hơn, nhiều thách thức hơn và có sự canh tranh khốc liệt hơn. Người mua hàng – thượng đế có quyền đòi hỏi khắt khe hơn. Mỹ, các nước liên minh Châu Âu… là những thị trường tiêu thụ lớn về hồ tiêu và nông sản, họ đã xây dưng và ban hành những tiêu chuẩn về GAP cho nông sản vào thị trường của họ như: USGAP (Mỹ), EUREPGAP (Liên minh châu Âu, ASEANGAP (các quốc gia Đông Nam Á ...).

 Một số nước Asean đã điều chỉnh tiêu chuẩn USGAP, EUREPGAP để phù hợp với nước của họ như các Hệ thống SALM của Malaysia, INDON GAP của Indonesia, VF GAP của Singapore,… Việt Nam đang cố gắng xây dựng 1 hệ thống tiêu chuẩn GAP hoàn chỉnh với tên là VIETGAP, tuy nhiên cho đến nay cũng chưa được ban hành chính thức.

Tiêu chuẩn GAP vừa là vũ khí bảo vệ an toàn cho người tiêu dùng vừa là vũ khí bảo vệ hàng hóa nông sản của mình trên trường quốc tế. GAP như một nhãn hiệu cầu chứng cho chất lượng và giá trị nông sản, vì thế sản xuất nông sản theo hướng GAP là một đòi hỏi tất yếu. GAP là mục tiêu của nông sản Việt Nam nói chung và là mục tiêu của ngành hồ tiêu Việt Nam nói riêng hướng tới hội nhập và phát triển bền vững.
VPA
Read more ...